Viêm phế quản phổi là gì? Có lấy lan không?

Đăng bởi nguyen sen vào lúc 21/04/2022

Viêm phế quản phổi là một trong các tình trạng bệnh phổi nguy hiểm, thường gặp ở người lớn tuổi và trẻ em. Hãy tham khảo bài viết này để hiểu rõ hơn về căn bệnh này nhé!

Viêm phế quản phổi là gì?

Viêm phế quản phổi thường gặp ở đối tượng nào

Ở trẻ em dưới 5 tuổi, nó là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Trên thực tế, viêm phế quản - phổi chiếm 85% tổng số các bệnh về hệ hô hấp ở trẻ dưới hai tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh cũng rất cao ở người lớn tuổi, đặc biệt là những người trên 65 tuổi. Nhìn chung, viêm phổi mắc phải tại cộng đồng là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất do bệnh truyền nhiễm.

 

Viêm phế quản phổi thường gặp ở trẻ em

 

Viêm phế quản phổi do đâu

Viêm phế quản phổi phần lớn là do nhiễm vi khuẩn, nhưng cũng có thể do nhiễm vi rút hoặc nhiễm nấm. Một số mầm bệnh có thể gây viêm phế quản phổi bao gồm: Staphylococcus aureus , Klebsiella pneumoniae , Haemophilus influenzae , Streptococcus pneumoniae , Pseudomonas aeruginosa và Escherichia coli . Các sinh vật gây viêm phổi khác, ít phổ biến hơn, có thể bao gồm vi rút như SARS-Cov-2, hoặc nấm như Aspergillus fumigatus .

Viêm phế quản phổi biểu hiện bằng tình trạng viêm trợt khu trú thành từng mảng xung quanh phế quản và có thể sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều thùy của phổi. Trong những trường hợp nặng, viêm phế quản phổi có thể dẫn đến hình thành áp xe phổi (túi chứa đầy mủ ở một khu vực khu trú). Ngoài ra, nhiễm trùng có thể lan đến khoang màng phổi và làm đầy dịch tiết (chất dịch giống như mủ do viêm nhiễm), tình trạng này còn được gọi là bệnh phù thũng.

 

Viêm phế quản phổi là gì

 

Viêm phế quản phổi có lây không?

Đúng, viêm phế quản phổi là một bệnh nhiễm trùng dễ lây lan. Các tác nhân gây bệnh có thể gây viêm phế quản phổi thường do con người hít phải. Thông thường, những chất này lây truyền khi một người ho hoặc hắt hơi sẽ tạo ra những hạt nhỏ li ti có thể lây lan và lây nhiễm cho người khác. Sau khi một người hít phải những giọt chứa mầm bệnh này, chúng sẽ cư trú ở cổ họng ( mũi họng hoặc hầu họng ), và sau đó đến các phế nang phổi thông qua việc hút dịch. Sự lây nhiễm có thể xảy ra mà khi kích thước chất cấy đã đủ hoặc hệ thống miễn dịch của vật chủ bị suy giảm. Sự nhân lên của mầm bệnh và các yếu tố độc lực của nó - kết hợp với phản ứng của hệ thống miễn dịch vật chủ - cuối cùng dẫn đến viêm và tổn thương phế quản và nhu mô phổi .

Các yếu tố nguy cơ bao gồm trẻ em dưới 2 tuổi, người lớn trên 65 tuổi, đi du lịch gần đây, hút thuốc lá, sử dụng kháng sinh trước đó, các tình trạng hô hấp tiềm ẩn (ví dụ như xơ nang , v.v.), nhiễm trùng gần đây, nhiễm HIV và rối loạn tự miễn dịch. Những người này nên thực hành các biện pháp phòng ngừa để tránh nhiễm trùng, vì họ dễ bị nhiễm các tác nhân gây bệnh viêm phế quản phổi .

 

Viêm phế quản phổi có lây không

 

Viêm phế quản phổi lây bao lâu?

Khoảng thời gian chính xác mà một người bị lây nhiễm phụ thuộc vào mầm bệnh gây ra nhiễm trùng. Thời gian ủ bệnh trung bình có xu hướng ngắn, thường khoảng từ 3–6 ngày. Sau thời gian ủ bệnh, các triệu chứng có xu hướng bắt đầu xuất hiện sau khoảng 7 ngày kể từ khi phơi nhiễm.

 

Viêm phế quản phổi lây bao lâu

Xem thêm: Phù phổi: Một vấn đề bệnh lý nghiêm trọng

Làm thế nào để bạn chẩn đoán viêm phế quản phổi?

Kết quả lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng của viêm phế quản phổi rất khác nhau. Các yếu tố như mầm bệnh, tuổi tác và sự hiện diện của các bệnh lý đi kèm đều đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định biểu hiện. Các triệu chứng bệnh phổi thường gặp bao gồm ho có đờm, đờm mủ , khó thở , gắt gỏng, khó chịu, đau màng phổi và đôi khi ho ra máu . Tuy nhiên, những trường hợp nặng có thể được đặc trưng bởi nhiễm trùng huyết và suy hô hấp.

Các phát hiện về khám sức khỏe bao gồm giảm giãn nở lồng ngực ở bên bị ảnh hưởng, âm ỉ khi gõ, âm thanh thở phế quản và tiếng rì rào, ám chỉ âm thanh thì thầm lớn nghe thấy trên ống nghe khi nghe phổi của bệnh nhân. Đôi khi, có thể quan sát thấy những phát hiện vật lý khác như ran nổ / ran ẩm ở vị trí hợp nhất, tăng fremitus thanh âm và cộng hưởng.

Đánh giá mức độ nghiêm trọng là một thành phần quan trọng để dự đoán kết quả chung của bệnh nhân. Tiêu chí chấm điểm (chẳng hạn như điểm PSI hoặc CURB-65) có thể giúp các chuyên gia y tế xác định liệu một bệnh nhân có nên nhập viện hay không. Một số bệnh nhân bị bệnh nhẹ và không có bệnh đi kèm đáng kể có thể được xuất viện về nhà một cách an toàn với kháng sinh uống và hẹn tái khám với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, những bệnh nhân có điểm mức độ nghiêm trọng cao (theo cả hai điểm) có thể phải nhập viện bên cạnh việc điều trị bằng kháng sinh IV. 

Phát hiện trong phòng thí nghiệm

Các phát hiện trong phòng thí nghiệm có thể là một công cụ hữu ích cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe để phân biệt loại viêm phổi đã lây nhiễm cho một người. Phát hiện trong phòng thí nghiệm đáng chú ý nhất là tăng bạch cầu (trong trường hợp viêm phổi do vi khuẩn ). Các phát hiện bổ sung trong phòng thí nghiệm bao gồm giảm bạch cầu (trong trường hợp viêm phổi không điển hình ), tăng bạch cầu ái toan (trong trường hợp viêm phổi tăng bạch cầu ái toan), thiếu máu, hạ natri máu , giảm tiểu cầu và tăng BUN.

Các xét nghiệm khác có thể giúp xác định vi sinh vật và chẩn đoán xác định bao gồm PCR, cấy đờm và máu (bao gồm nhuộm Gram) và xét nghiệm kháng nguyên nước tiểu (được sử dụng để phát hiện kháng nguyên C-polysaccharide của Streptococcus pneumoniae trong nước tiểu).

Mặt khác, CRP (protein phản ứng C) và procalcitonin là các xét nghiệm được sử dụng để phân biệt giữa viêm phổi do vi khuẩn và vi rút và đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh. Ví dụ, đã có báo cáo rằng CRP tăng cao (> 100 mg / L) trong các trường hợp viêm phổi do vi khuẩn.

Phát hiện X quang ngực

Ở bệnh nhi, viêm phế quản phổi được đặc trưng bởi các ổ tụ tụ rải rác (mủ ở nhiều phế nang và các đường dẫn khí lân cận ) có thể được tìm thấy ở một hoặc nhiều thùy của một hoặc cả hai phổi.

Một đặc điểm đáng chú ý khác của bệnh viêm phế quản phổi là các vết mờ loang lổ hợp lưu đại diện cho các vùng viêm trái ngược với nhu mô phổi bình thường .

Kết quả CT

Một phát hiện đặc trưng của bệnh viêm phế quản - phổi là “hình dạng cây trong chồi”, bao gồm một mô hình thùy hợp nhất của phổi tập trung tại các tiểu phế quản trung tâm . Thông thường, những điểm này có thể chồng lên nhau và tạo ra một vùng hợp nhất lớn hơn, tạo ra một hình dạng 'chăn bông chắp vá.

Bạn điều trị viêm phế quản phổi như thế nào?

Nguyên nhân gây bệnh viêm phế quản phổi thường không được biết khi chẩn đoán, do đó điều trị theo kinh nghiệm nên được bắt đầu với mầm bệnh nghi ngờ nhất dựa trên các đặc điểm lâm sàng được thấy khi khám. Trong hầu hết các trường hợp, điều trị theo kinh nghiệm được hướng dẫn sau khi đã ghi nhớ được mầm bệnh nghi ngờ. Thuốc kháng sinh được sử dụng trong điều trị viêm phế quản phổi bao gồm cephalosporin thế hệ thứ nhất và thứ ba , cũng như kháng sinh dựa trên penicilin. Liệu pháp kháng sinh thường kéo dài từ 5–7 ngày. Liệu pháp hỗ trợ bao gồm bổ sung đủ nước , nghỉ ngơi và chăm sóc tại nhà.

Hi vọng bài viết hữu ích đối với bạn. Không chỉ có viêm phế quản phổi mà các vấn đề liên quan đến sức khỏe chúng ta nên quan tâm hàng đầu. Cập nhật các kiến thức cần thiết cũng là một cách thể hiện bạn đang quan tâm đến sức khỏe của mình. 

Tham khảo thêm bài viết: Mách bạn cách giữ cho phổi khỏe mạnh và toàn vẹn

 

Tags : mức độ lây lan viêm phế quản phổi, viêm phế quản phổi, viêm phế quản phổi là gì, điều trị viêm phế quản phổi như thế nào
VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
popup

Số lượng:

Tổng tiền:

avatar
Xin chào
close nav
zalo

HOTLINE

1900 866 856